Những lần Herzog & de Meuron mở rộng giới hạn về cách nghệ thuật được nhìn nhận

Khi một tổ chức nghệ thuật lớn muốn xây dựng ở bất kỳ đâu trên thế giới, Herzog & de Meuron thường nằm trong danh sách rút gọn hàng đầu. Trong hơn bốn thập kỷ, văn phòng kiến trúc Basel do Jacques Herzog và Pierre de Meuron sáng lập năm 1978 đã được biết đến qua những không gian dành cho việc cảm nhận, trưng bày và sáng tạo nghệ thuật.

Walker Art Center, Minneapolis, Minnesota. Ảnh: Duccio Malagamba.

Các dự án quen thuộc như bảo tàng M+ Hong Kong (2021), Pérez Art Museum Miami (2013), de Young San Francisco (2005) hay Tate Modern London (2000) chỉ là phần nổi trong danh mục công trình của họ. Từ các lắp đặt tạm thời cùng nghệ sĩ, không gian cho bộ sưu tập tư nhân, xưởng sáng tác, Kunsthallen đến bảo tàng quốc gia, những dự án này tạo thành một hệ sinh thái không gian, tác động qua lại về hình thức và ý niệm.

Một dự án quan trọng với Herzog & de Meuron là phần mở rộng Trung tâm Nghệ thuật Walker ở Minneapolis, được lập kế hoạch từ 1999 và hoàn thành năm 2005. Dự án tập hợp nhiều yếu tố của một trung tâm nghệ thuật hiện đại: tái sử dụng thích ứng, quy hoạch đô thị, tương tác cộng đồng trực tiếp, đa dạng loại hình nghệ thuật, bộ sưu tập quốc tế đang tăng trưởng và lập trình công chúng quy mô lớn. Đây cũng là một trong những dự án văn hóa lớn đầu tiên do đối tác Christine Binswanger dẫn dắt.

Walker Art Center được nhắc đến như một tổ chức có định hướng cởi mở, điều thể hiện rõ qua các chương trình hoạt động. Cuối thập niên 1990, thay vì chỉ mở rộng kho và không gian lưu trữ cho bộ sưu tập Hiện đại và Đương đại, Walker yêu cầu Herzog & de Meuron nhấn mạnh yếu tố cộng đồng. Không muốn chỉ là nơi bảo tồn khép kín, Walker hướng tới một không gian văn hóa có đời sống, “bao bọc cá nhân trong sự cấp thiết tập thể”, như Kathy Halbreich mô tả khi trò chuyện với Christine Binswanger. Walker đánh dấu một bước chuyển trong cách Herzog & de Meuron tiếp cận không gian nghệ thuật: ưu tiên lập trình công chúng (với nhà hát đa năng) và xem xét kỹ mối liên hệ giữa tổ chức với cấu trúc đô thị. Ảnh: Herzog & de Meuron.
Walker Art Center, Minneapolis, Minnesota. Ảnh: Peter Tolkien.

Felix Burrichter: Hãy bắt đầu từ đầu. Hai người gặp nhau ra sao?

Kathy Halbreich: Christine và tôi gặp nhau khi đồng nghiệp Richard Flood cùng tôi đi thăm nhiều văn phòng kiến trúc. Ban đầu chúng tôi không định ghé Herzog & de Meuron, vì Tate Modern vừa mở và chúng tôi không muốn một “Tate thu nhỏ”. Dù rất thích công trình của họ, tôi vẫn nghĩ họ sẽ là điểm đến cuối cùng. Nhưng ngay khi bước vào, chúng tôi thấy đây là lựa chọn đúng. Ở văn phòng Basel có một chiếc bàn lớn với nhiều bát táo đầy, nơi mọi người thường quây quần. Nghe có thể là một chi tiết nhỏ, nhưng với tôi, đó là hình ảnh chúng tôi muốn cho Walker: một nơi tụ họp, thoải mái, có thể nói chuyện và tranh luận. Chiếc bàn ấy trở thành một ẩn dụ cho dự án trong suy nghĩ của tôi.

Còn nhiều lý do khác nữa. Tòa nhà Walker cũ do Edward Larrabee Barnes thiết kế năm 1971 khá khép kín, ít cửa sổ và ít ánh sáng tự nhiên. Gallery đẹp, nhưng với Richard và tôi, nó gợi một quan niệm bảo tàng kín đáo đã cũ. Khả năng xử lý sự trong suốt của Herzog & de Meuron chính là điều chúng tôi cần.

Christine Binswanger: Năm 1999, tôi đang ở một giai đoạn khác trong sự nghiệp. Tôi đã là đối tác, nhưng không gian nghệ thuật duy nhất tôi từng thực hiện khi đó là pavilion cho Biennial São Paulo năm 1994, dành riêng cho Pipilotti Rist và Hannah Villiger. Ban đầu, Kathy và Richard chủ yếu trao đổi với Jacques và Pierre. Những cuộc trao đổi ấy rất hay, chỉ nghe thôi cũng khiến tôi thấy hào hứng về những gì sắp tới.

Đây không phải một cuộc thi. Hội đồng Walker tin tưởng Kathy và Richard, nên họ được tự do chọn kiến trúc sư.

Biennial São Paulo 1994: Herzog & de Meuron thiết kế pavilion tạm cho hai nghệ sĩ Thụy Sĩ Pipilotti Rist và Hannah Villiger, với nhiều mối liên hệ giữa nội thất và ngoại thất. Khách trải nghiệm một không gian sáng hình chữ nhật cho khối ảnh của Villiger và một không gian tối, mang tính phi vật chất, cho video của Rist. Hình ngôi sao đến từ góc chiếu trước và sau, bên dưới là nơi trưng bày tác phẩm. Bản vẽ: Herzog & de Meuron.
Từ cách “ngắm nhìn” có thể tìm ra hình thức kiến trúc: cảm nhận chủ động ở bên ngoài đối lập với cảm nhận thụ động ở bên trong. Mảng nhọn được phóng đại là một mô típ quen thuộc của văn phòng, từ mái dốc đến dạng tam giác (xem SONGEUN Art Space). Đây là dự án nghệ thuật thị giác đầu tiên của Christine Binswanger, và cùng năm bà trở thành đối tác, là người đầu tiên gia nhập hàng đối tác cùng Harry Gugger kể từ khi hãng thành lập năm 1978. Ảnh: Herzog & de Meuron.

KH: [Cười.] Họ tưởng chúng tôi sẽ mang về ba lựa chọn, nhưng thực ra chỉ có các bạn. Chúng tôi phải thuyết phục một chút.

CB: Thế là hành trình bắt đầu. Kathy và Richard rất sắc sảo. Mọi thảo luận về tòa nhà, mặt bằng, vật liệu đều được đặt trong bối cảnh rộng hơn, tức ý nghĩa của dự án đối với cộng đồng, nghệ sĩ và nhân viên. Tôi bắt đầu hiểu bảo tàng phức tạp đến mức nào, không chỉ là một công trình, mà còn là hạ tầng cho cộng đồng.

KH: Tôi không muốn nói quá, nhưng Walker khi đó thực sự đóng vai trò thử nghiệm. Sứ mệnh của chúng tôi là đa ngành, đa dạng và toàn cầu. Chúng tôi lập một nhóm cộng đồng, có chính trị gia, nhà hoạt động, người nghỉ hưu, để cùng tham gia thiết kế tòa nhà. Ban đầu tôi lo vì họ chỉ nói mãi về giá treo xe đạp. [Cười.]

CB: Nhiều người nghĩ kiến trúc là vẽ xong rồi xây. Thực tế, khi bắt đầu một dự án, bạn gần như chưa biết gì cả. Mỗi dự án phục vụ nhu cầu riêng của một nhóm người, một nơi chốn cụ thể. Việc đầu tiên của kiến trúc sư là học hỏi.

Studio Rémy Zaugg, Mulhouse, Pháp, 1995–96. Xưởng của nghệ sĩ Rémy Zaugg, bạn lâu năm của Jacques và Pierre, là một trường hợp đặc biệt. Zaugg thường hợp tác với hãng và dành phần lớn sự nghiệp để nghĩ về không gian lý tưởng cho việc sáng tác và trưng bày (cuốn sách năm 1986: Bảo tàng Nghệ thuật Trong Mơ Của Tôi). Xưởng Mulhouse trở thành nơi thử nghiệm ánh sáng trên cao theo cách đơn giản, sau này được dùng cho Tate Modern và nhiều dự án khác. Ảnh: Herzog & de Meuron.

Felix Burrichter: Walker có ảnh hưởng đến các dự án nghệ thuật sau này của bà không?

CB: Tôi hy vọng là có. Walker về cơ bản là một đối trọng với Tate và MoMA. Nó là trung tâm nghệ thuật, chứ không phải bảo tàng theo nghĩa truyền thống. Kathy và Richard thúc chúng tôi nhìn bảo tàng như một công cụ phục vụ cộng đồng địa phương, hơn là một sân khấu quốc tế. Từ đó, chúng tôi cố gắng đưa cách tiếp cận này vào các dự án khác.

KH: Hầu hết mọi người đến bảo tàng theo cặp. Tổ chức thực chất là một cỗ máy trao đổi, bao bọc cá nhân trong sự cấp thiết tập thể. Đó là lý do chúng tôi gọi dự án là “More Than a Museum”. Nghĩa là hơn một dãy gallery. Điểm quan trọng là lưu thông trở thành một phần của lập trình.

Người bảo thủ sẽ nói: “Lưu thông tốn kém quá.” Nhưng chính lưu thông mới là lập trình. Đó có thể là những góc nhỏ có tầm nhìn, nơi bạn ngồi nghe nhạc của mùa đó, hoặc nơi bạn có thể hỏi một nhân vật cá heo hoạt hình: “Nghệ thuật là gì?”, điều mà bạn ngại hỏi một hướng dẫn viên. Đây là một trong những dự án new media đầu tiên của chúng tôi.

Nhiều bảo tàng đặt tác phẩm như đồ trang trí ở những vị trí tệ nhất. Tôi không thích thấy nghệ thuật đặt cạnh thang máy. Vì vậy, chúng tôi không cho phép nghệ thuật ở không gian lưu thông.

Sammlung Goetz, Munich, Đức, 1989–92. Công trình dành cho bộ sưu tập của Ingvild Goetz là một dự án quan trọng. Đầu thập niên 1990, văn phòng đã được biết đến với cách tiếp cận tối giản và quan tâm đến vật liệu. Cấu trúc kính và gỗ ba tầng, hình thức đơn giản, không chỉ thu hút giới kiến trúc mà còn củng cố vị thế của Herzog & de Meuron với các tổ chức và nhà sưu tập (Goetz sở hữu tác phẩm của Federle, Kounellis, Rückriem, Nauman, Twombly). Năm 2014, Goetz tặng tòa nhà cùng bộ sưu tập cho bang Bavaria. Ảnh: Herzog & de Meuron.
MKM Museum Küppersmühle Extension, Duisburg, Đức, 2013–21. Trước khi “tái sử dụng thích ứng” trở thành một từ khóa phổ biến, văn phòng đã chuyển một nhà máy điện cũ thành Tate Modern (2000). Một năm trước đó, họ chuyển một nhà máy xay lúa thế kỷ 19 thành Küppersmühle. Phần mở rộng mới khai trương gần đây, bổ sung gallery cho bộ sưu tập Đức hậu chiến. Khối 53.000 foot vuông được tiếp cận qua một cầu thang bê tông mang tính điêu khắc, màu gạch, mở ra tầm nhìn vào silo cũ. Lớp gạch mặt tiền gợi lại lần can thiệp trước và tòa nhà gốc năm 1860. Ảnh: Simon Menges.

CB: Bà vẫn nghĩ quyết định không đặt nghệ thuật ở khu vực lưu thông là đúng chứ? Hiện nay nhiều nơi muốn bảo tàng giống nhà ở hơn, với tranh treo tường như một phần trang trí.

KH: Chúng tôi vẫn tạo được cảm giác thân mật. Bà còn nhớ những đèn chùm làm từ kính thừa không? Tường, ghế ngồi, ánh sáng, màn hình, nhà hát, tất cả đều có vai trò tạo bầu không khí. Nhưng chúng tôi không dùng nghệ thuật để trang trí. Đó là một chức năng sai.

CB: Tôi thích bước vào bảo tàng và thấy nghệ thuật ngay lập tức. Như ở Pérez Miami, đi qua cửa là vào gallery. Trải nghiệm bắt đầu từ nghệ thuật. Tôi thích điều đó hơn là một lobby đầy cửa hàng và quầy vé. Điều này dẫn đến việc so sánh Walker với Musée Unterlinden. Cả hai đều là dự án mở rộng, cách làm khác nhau, nhưng nhiệm vụ có điểm tương đồng. Ở Walker, nhà hát được đặt ở vị trí nổi bật để ghi nhận vai trò của nghệ thuật biểu diễn, với vật liệu hoàn toàn khác. Unterlinden có một bộ sưu tập trung cổ, với bàn thờ Isenheim thế kỷ 16 trong một tu viện có chất lượng không gian mạnh. Phần mở rộng dành cho thế kỷ 20 nằm bên kia đường, tạo thành một quảng trường bảo tàng. Dự án phải cân bằng đô thị, kiến trúc và cách trình bày các thời kỳ.

Chúng tôi phản chiếu nhà thờ dọc kênh, giữ kích thước tương đương, và chọn vật liệu để tạo sự liên tục. Chúng tôi làm việc với sử gia nghệ thuật Jean François Chevrier, và thậm chí cùng giám tuyển triển lãm mở đầu Agir, contempler, bao quát toàn bộ sưu tập, đặt hành động của con người làm trung tâm, từ hành động được miêu tả trong tranh cổ cho đến hành động trở thành nghệ thuật, tức biểu diễn. Một số nghệ sĩ như Volmir Cordeiro, Jérôme Bel, La Ribot đã biểu diễn trong nhà tắm công cộng cũ.

Musée Unterlinden, Colmar, Pháp, 2010–15. Tổ hợp gồm tu viện trung cổ (nơi đặt bàn thờ Isenheim), một nhà tắm cũ được tái sử dụng và khối gallery mới của Herzog & de Meuron. Ảnh: Ruedi Walti.
Thách thức gồm ba phần: cải tạo công trình hiện hữu, xây cánh Hiện đại, và định hình lại đô thị để tạo một không gian công cộng mới giữa trung tâm Colmar. Ảnh: Ruedi Walti.

KH: Christine không nói, nhưng tôi nói hộ. Bộ sưu tập Hiện đại của Unterlinden không thật sự mạnh. Gallery dưới đất chỉ là phần phụ nếu đặt cạnh bàn thờ Isenheim. Tôi vẫn thắc mắc vì sao lại trưng bày các bức tường không chạm sàn và trần cho những tác phẩm Hiện đại có quy mô lớn.

CB: Khi thiết kế phần thế kỷ 20, chúng tôi áp dụng nhiều kinh nghiệm trước đó: gallery chuẩn với tường chạm sàn trần, cửa ra vào cân đối. Chúng tôi trao đổi nhiều với Jean François. Ông không đánh giá, ông chỉ muốn ghi lại những gì tổ chức đã mua ở thời điểm đó. Ông cho rằng white cube quá khắc nghiệt với những tác phẩm trung bình, và lý tưởng nhất là trưng bày theo dạng kho lưu trữ. Vì vậy, các bức tường di động trong một không gian mở có thể tạo ra một cách đọc khác, khi mối quan hệ giữa các tác phẩm trở nên quan trọng hơn từng tác phẩm riêng lẻ.

KH: Tôi hay nhấn mạnh phần không gian bên ngoài và cách các bạn điều chỉnh vị trí tòa nhà ở Unterlinden. Công chúng hưởng lợi rất nhiều, kể cả khi họ không bước vào bảo tàng. Các bạn đã trả lại cho thành phố những không gian tụ họp vốn có. Đó cũng là điều tôi nhận ra trong cách Herzog & de Meuron làm việc: cốt lõi luôn là đô thị. Không phải một “hộp ngọc” đặt lên một khu đất. Địa điểm tự kể câu chuyện của nó, và câu chuyện đó thấm vào kiến trúc, lịch sử và văn hóa của nơi chốn.

Musée Unterlinden, Colmar, Pháp. Ảnh: Ruedi Walti. Herzog & de Meuron.

Felix Burrichter: Cách tiếp cận của các bạn trong việc tạo ngữ cảnh để xem nghệ thuật thay đổi như thế nào qua thời gian?

KH: Làm không gian nghệ thuật rất khó. Bộ sưu tập ngày càng toàn cầu là điều tốt, nhưng tôi chưa thấy điều đó phản ánh rõ trong kiến trúc. Tôi muốn thấy một sự thay đổi mạnh hơn.

CB: Ít nhất ở phương Tây, chúng ta đang dịch chuyển theo hướng tái sử dụng nhiều hơn. Tại sao phải xây mới trong khi quanh mình có rất nhiều công trình hậu công nghiệp?

KH: Nhưng điều đó chính là Tate Modern, các bạn đã làm từ 25 năm trước. Richard và tôi hay tự hỏi: vì sao nhiều kiến trúc sư giỏi lại không làm được một bảo tàng tốt? Đến nay, số bảo tàng tệ vẫn nhiều hơn số bảo tàng tốt. Có thể vì khuôn mẫu của bảo tàng truyền thống. Chúng tôi muốn một câu chuyện kiến trúc khác. Với Walker, tôi nghĩ chúng tôi đã đạt được những gì có thể. Tính đa ngành của Walker là một dấu mốc. Nhưng tôi vẫn tự hỏi: nếu chúng ta không phải người da trắng gốc châu Âu, liệu hình dung về bảo tàng có khác không? Chắc chắn là có. Bảo tàng phải là nơi thể hiện đa dạng ở mức cao nhất. Vài năm trước, tôi làm giám khảo cuộc thi M+ Hong Kong. Nhiều kiến trúc sư tôi ngưỡng mộ đều tham gia. Có những nỗ lực đưa yếu tố văn hóa cụ thể vào hình thức, như mái mô phỏng nón lá, khiến tôi thấy không ổn. Những tham chiếu kiểu đó thường nông, vì chúng ta chưa có một ngôn ngữ đủ chín. Herzog & de Meuron khai thác địa điểm rất triệt để và thắng là xứng đáng. Tôi muốn hỏi Christine: nhóm đã thảo luận gì về những vấn đề đó? Vị trí ở Hong Kong có ảnh hưởng đến hình thức hay ý niệm không?

CB: Nếu nói về hình thức, lớp gốm xanh đậm có tính tham chiếu địa phương. Nhưng phần lớn xuất phát từ chính địa điểm, vốn là một bãi rác, lại có những đường hầm ngầm cắt chéo. Ban đầu, ai cũng xem đó là trở ngại, sau đó chúng tôi dùng chính các lực tác động đó để tổ chức công trình. Chúng tôi luôn cố gắng phản ứng với đặc thù địa phương, cả về mặt vật lý lẫn tinh thần. Xây một bảo tàng ở nơi chưa có một không gian văn hóa tương đương nghĩa là phải dự phòng lượng khách rất lớn. Điều đó định hình những quyết định của M+, như lobby rộng, màn hình lớn hướng ra cảng.

KH: Điều Christine vừa nói rất quan trọng. Chúng ta hay nói “bảo tàng” như một danh từ chung, nhưng mỗi bảo tàng là một trường hợp riêng. Quy mô, ngữ cảnh, bộ sưu tập, tất cả làm nên sự khác biệt. Ở M+ hay MoMA, phải thiết kế nhiều không gian không lập trình sẵn để có thể linh hoạt. Những không gian đó đôi khi mang cảm giác “công ty” vì cần lưu thông thuận tiện. Các ràng buộc là có thật. Herzog & de Meuron làm tốt trong việc xử lý ràng buộc. Có lần Walker gặp khủng hoảng tài chính, chúng tôi không chắc dự án có thể hoàn thành. Christine còn nhớ chứ? Chúng tôi phải cắt bỏ một khối không gian lớn, rất đau. Nhưng các bạn đã biến những phần “thỏa hiệp” đó thành điểm mạnh, và tòa nhà thậm chí tốt hơn.

SONGEUN Art Space, Seoul, Hàn Quốc, 2016–2021. SONGEUN thuộc nhóm dự án văn hóa mà bản thân hình khối đã đóng vai trò như một tác phẩm (có thể so với CaixaForum Madrid). Công trình tạo một mặt cắt tam giác trong khu thương mại Seoul, gợi lại phương án dự thi MoMA 1997 và pavilion São Paulo. Ảnh: Herzog & de Meuron.
Mặt tiền bê tông in dấu ván khuôn gỗ. Lối dốc xoắn ốc lên gallery trùng với đường xe xuống gara ngầm, lộ ra trong một khoảng trống xuyên suốt chiều cao, tạo một không gian ba tầng dưới đất. Ảnh: Herzog & de Meuron.

Tương lai của kiến trúc cho các tổ chức nghệ thuật sẽ ra sao?

KH: Nói thật, không có mức lương nào đủ để tôi làm giám đốc bảo tàng vào thời điểm này. Tôi vẫn tin vào bảo tàng, nhưng không muốn lãnh đạo nữa. Bây giờ tôi quan tâm nhiều hơn đến những cách trực tiếp để tạo thay đổi xã hội và hỗ trợ nghệ sĩ làm tác phẩm mới, điều không nhất thiết là ưu tiên của một tổ chức lớn với bộ sưu tập và bộ máy vận hành lớn.

Tôi đang dần rời khỏi mô hình tổ chức. Tôi không còn ở vị trí để mơ về một mô hình tổ chức mới. Thế hệ sau sẽ phải tưởng tượng điều đó. Tôi đã cố gắng, có thể chưa đủ, nhưng không có gì là đủ cả.

CB: Có nơi đang đặt lại câu hỏi về vai trò của “bảo tàng”, có nơi vẫn xây mới vì đang ở một giai đoạn khác. Nhưng điều không thay đổi là trải nghiệm vật lý với nghệ thuật vẫn cần thiết.

KH: Gần đây tôi lập một hội đồng nghệ sĩ để hướng dẫn hoạt động từ thiện tại Quỹ Rauschenberg. Paul Chan là người phát ngôn công khai, các thành viên còn lại ẩn danh. Tôi muốn đọc một đoạn của ông, vì nếu tôi có một giấc mơ nào cho văn hóa, thì đó là điều này:

“Các khoản tài trợ thể hiện cam kết tôn vinh và mở rộng di sản của Bob. Ở mức tốt nhất, tác phẩm của Bob tạo chỗ cho những gì chưa hoặc chưa xứng đáng được chú ý về mặt thẩm mỹ, và được làm giàu bởi vô số trải nghiệm xã hội và chính trị, những thứ làm phong phú đời sống nếu ta cho phép. Công việc của hội đồng nuôi dưỡng một ý tưởng: nghệ thuật được làm giàu bởi tất cả những gì không phải nghệ thuật, vì nghệ thuật đa chiều mới có khả năng hình dung một thực tại sống động và mang tính lễ hội hơn. Vì vậy, tất cả những gì không phải nghệ thuật cũng cần được bảo vệ và hỗ trợ để nghệ thuật có thể nở rộ. Sự đa dạng mà chúng tôi tài trợ chính là lập luận cho ý tưởng đó.”

SONGEUN Art Space, Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: Iwan Baan. Herzog & de Meuron.

Kết thúc ở đây thật đẹp.

KH: Thực ra, kết đẹp nhất là điều hạnh phúc nhất từ dự án với Herzog & de Meuron: Christine đã trở thành một người bạn lâu dài.

Và điều đó được ghi lại chính thức.

KH: Đúng vậy.


Phỏng vấn
Felix Burrichter

Biên tập
Anh Nguyên

Nguồn
PIN-UP