Nhà ở đồng bào dân tộc Nùng

Nhà ở là công trình văn hóa, đồng thời là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa của gia đình và đồng thời cũng là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa dân tộc. Nhà ở của đồng bào Nùng chủ yếu là nhà sàn truyền thống và nhà đất, ngoài ra còn có loại nửa sàn nửa đất. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập trung vào kiểu thức kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Nùng và văn hoá, tập tục đi kèm.

CHỌN TUỔI, HƯỚNG VÀ NGUYÊN LIỆU DỰNG NHÀ

Vấn đề đầu tiên đồng bào Nùng luôn dành sự quan tâm khi làm nhà là việc xem tuổi. Tuổi được làm nhà tốt nhất là tuổi của chồng hoặc một trong những người con được tuổi làm nhà. Người được tuổi làm nhà phải đứng tên và có mặt trong mọi thủ tục cần thiết liên quan đến làm nhà và những khâu quan trọng trong quá trình dựng nhà như động thổ (san nền), đặt móng (dựng cột), đổ tràn (đặt thượng lương, lợp nhà). Nếu vợ, hoặc chồng không được tuổi làm nhà thì những giờ động thổ, đặt móng và đổ trần, người đó cần lánh mặt, đi làm việc khác.

Vấn đề chọn hướng nhà là điều quan tâm tiếp theo, đồng bào có câu “Đảy kin dòm mò mả, thoong thả dòm tỉ rườn, nghĩa làm được ăn là nhờ mồ mả, được yên ổn là nhờ đất làm nhà. Khi chọn hướng nhà, đồng bào thường đặt thế nhà đó trong toàn cảnh thế đất và cảnh quan xung quanh, bao gồm hướng phía trước nhà, “điểm tựa” phía sau nhà và thế đất ở hai bên sườn nhà. Hướng nhà tốt là phải nhìn được xa, phải có một đỉnh núi cao ở tầm xa làm đích. Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu cho dân tộc là ngôi nhà sàn, lợp ngói máng, dưới gầm sàn là chuồng gia cầm, thậm chí cả gia súc.

Nguyên liệu để làm nhà là gỗ, tre, ngói, là những thứ mà có sẵn tại chỗ. Trong ngôi nhà, toàn bộ gỗ làm khung cho ngôi nhà là cột, xà, kèo, hoành, cầu phong ly tô, đều là gỗ không bị mọt ăn. Cột, kèo, xà được làm bằng gỗ nhóm một, phổ biến nhất là gỗ nghiến, gỗ đinh… Bộ khung này được coi là “vĩnh cửu” – không mối, không mọt, không mục, không ải. Nếu được gỗ nhóm một là lý tưởng nhất, nhưng nhiều khi cũng phải chấp nhận gỗ nhóm ba, nhóm bốn, thậm chí đến nhóm sáu, miễn là chúng không bị mối, mọt ăn. Tre làm nhà là tre già, đảm bảo độ bền hàng chục năm.

Đồng bào Nùng không chỉ chú ý chọn gỗ, mà còn chọn thời điểm chặt gỗ để làm nhà. Theo qui luật sinh học, vào mùa thu, đông, tiết trời khô, các loại cây đều có nhịp độ phát triển chậm, thân cây chứa ít nước, cây gỗ có độ cứng tốt, độ dẻo cao. Hạ cây gỗ, tre vào mùa khô sẽ tránh được rất nhiều các hiện tượng mối, mọt… Do nhận thức được qui luật sinh học này đồng bào thường hạ cây làm nhà vào mùa thu đông. Cần nói thêm rằng, đây cũng là lúc nông nhàn, mùa khô ráo, tiện cho việc đi rừng, không ảnh hưởng đến sản xuất. Những cây gỗ to phải đốn hạ bằng rìu, búa, cưa to (“mạc tuồn”), đôi khi dùng cả lửa đốt cháy gốc. Sau khi hạ được một năm trở lên, tức là đủ thời gian cho cây khô nước, cho gỗ ổn định, chủ nhân mới tiến hành gia công thành cột, xà hay kèo… Những thành phẩm này được chuyển về nhà bằng xe trâu kéo, cây gỗ nhỏ hơn có thể chỉ cần người khiêng hoặc vác về nhà. Ngói được đồng bào sản xuất tại chỗ. Kỹ thuật làm nhà của đồng bào Nùng là kỹ thuật thủ công, thông qua các phương pháp cưa cắt, bào, đục lỗ, ghép mộng, chốt đinh gỗ và cột nhà kê trên đá tảng. Dụng cụ để thi công là búa, rìu, dao, cưa, đục, tràng bào, khoan.

MẶT BẰNG VÀ CÔNG NĂNG

Về thiết kế mặt bằng, nhà đồng bào Nùng có chiều sâu lớn hơn chiều rộng, theo công thức thông thường là 4 x 3 (tức là 4 sâu, 3 rộng). Về giá trị sử dụng, nhà sàn người Nùng có 3 tầng sử dụng. Tầng một là mặt đất, dưới gầm sàn nhà, không gian này dùng làm chuồng gà, vịt, ngan, ngỗng; có chuồng lợn và có thể có cả trâu, bò, ngựa. Có một số vùng, chuồng gia súc và chuồng lợn được làm ở ngoài gầm sàn, cạnh nhà ở. Ngoài ra, tầng một cũng là nơi để các công cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng, thuổng,… Tầng hai là sàn nhà, dành cho người ở. Sàn có thể được lát bằng ván tốt đối với nhà khá giả, hoặc lát bằng tre nếu nhà chưa có điều kiện hoặc nhà nghèo. Nhà bình thường có 4 gian, có hai cửa ra vào, cửa chính ở phía trước, của phụ ở phía sau, mở ở một góc nhà. Cũng từ vị trí mở, nên đồng bào quen gọi là cửa trước, cửa sau. Trên sàn nhà ở được chia thành những khu vực sinh hoạt khác nhau: Ngăn 1/4 hai gian giữa ở phía sau làm bếp nấu ăn và bếp nấu cám lợn.

Một gian bên cạnh để thông suốt từ phía trước đến phía sau. Cửa sau được mở ở gian này. Tính từ phía trước nhà đến phía sau nhà, gian này thường có giường ngủ của chủ nhà, giường ngủ của con trai, tiếp nữa là cối xay, cối giã gạo, cầu thang lên xuống gầm sàn và có thể để ít củi đun hàng ngày. Gian bên cạnh kia, cũng kể từ phía trước đến ngang với liếp ngăn làm bếp ở gian giữa thường được ngăn thành ba buồng và bố trí như sau: buồng đầu tiên là buồng để bàn thờ, buồng thứ hai là buồng ngủ của vợ chủ nhà, buồng thứ ba là buồng ngủ của con gái. Còn một khoảng trống ngang liếp ngăn bếp đến vách sau của gian này là các thứ dụng cụ của nhà bếp. Khu vực từ liếp ngăn bếp đến cửa trước là nơi sinh hoạt chung của gia đình, nơi tiếp khách, gia đình ăn cơm… Vào những ngày mùa khẩn trương, đây là nơi tập kết thóc, ngô, hồi… để chờ đem phơi khô sau đó đưa lên bảo quản ở trên gác (tầng 3).

Ngay trên bếp nấu ăn và bếp nấu cám lợn, đồng bào treo một gác nho nhỏ bằng nan tre (“lá”) với diện tích khoảng 2 m. Trên gác bếp, đồng bào để các thứ dùng hàng ngày cho bếp và một số thứ cần hong khô thường xuyên như bao diêm, đóm, măng khô, mộc nhĩ… Phía trước nhà ở là một diện tích sàn dùng làm sân phơi. Sàn phơi thấp hơn sàn ở một chút và được làm bên ngoài giọt gianh của mái nhà. Sàn ở nối với sàn phơi bằng một cầu rộng khoảng hai mét. Sàn phơi được nối đất bằng một thang. Người vào nhà đi cửa trước, phải lên thang sàn phơi rồi mới vào nhà. Sàn phơi được sử dụng để phơi thóc, ngô, hồi, các loại đậu, đỗ… Những buổi chiều hè, đây là nơi nghỉ ngơi hóng mát. Những ngày nắng mùa đông, không gian này lại là nơi chị em ngồi sưởi nắng ấm và tập may vá. Phía sau nhà, liền với cửa ra vào, là sàn để nước. Người nhà, khách quen đi lên nhà thường đi của sau, qua sàn nước để còn rửa sạch chân trước khi bước vào nhà.

Ngay sát ngôi nhà ở của dân tộc Nùng thường có một mảnh vườn. Tùy điều kiện thế đất, vườn có thể rộng hẹp khác nhau. Trong vườn, có các loại rau xanh theo mùa và các loại cây ăn quả và cây đặc sản địa phương như mận, đào, lê, hồng, vải, nhãn, chanh… Trong vườn luôn có vài khóm chuối xanh tươi quanh năm.

TẬP TỤC & VĂN HOÁ DỌN VÀO NHÀ MỚI

Một vấn đề rất có ý nghĩa liên quan đến nhà ở là tập quán vào nhà mới của đồng bào Nùng. Theo tập quán, vật được mang vào nhà đầu tiên là ngọn lửa. Đến hôm dọn vào nhà mới, chủ nhà (người được tuổi làm nhà) cầm cây củi than hồng bước theo cầu thang lên nhà, đi thẳng vào bếp, chụm củi, đốt lửa cháy to thành ngọn… Sau đó chủ nhà đặt ấm nước rồi đem hai bát hương đặt lên bàn thờ. Nước sôi, pha chè, thắp hương lên và khấn cầu mong tổ tiên phù hộ, mọi người được mạnh khỏe, làm gì cũng được, ước gì cũng thấy.

Một tràng pháo nổ ran làm tín hiệu báo với dân làng, với tổ tiên về sự việc rất vui mừng này. Ngọn lửa được chủ nhà nhóm lên sưởi ấm cả ngôi nhà, tượng trưng cho ấm no; ngọn lửa đó sẽ cùng tham gia việc chuẩn bị cho mâm cỗ ngày hôm đó. Trong quá trình chuẩn bị gỗ, ngói và cả quá trình làm nhà, anh em trong họ nội, ngoại giúp công sức, cho vay rượu, gạo, gỗ, ngói… Đến lúc vào nhà mới họ sẽ cùng có mặt để chia vui và chăm lo thủ tục tổ chức ăn uống, tiếp khách sao cho chu đáo.

Khách mừng nhà mới có thể chia thành hai loại. Gần là con, cháu gái đã đi lấy chồng và bên ngoại nói chung, theo tục lệ là có con lợn quay đến mừng. Khách quen, thân tình được mời đến mừng nhà mới, thường là mừng cho chủ một chiếc gương soi cỡ to khoảng 30cm x 60cm hoặc 40cm x 80cm. Trên gương dán giấy nhỏ ghi rõ họ tên người đến mừng và họ tên chủ nhà được mừng. Khách đi đến cổng sẽ đốt một bánh để tiếng pháo thay cho tiếng chào đầu tiên. Chủ nhà nghe tiếng pháo, cũng đốt một tràng pháo đáp lễ, thay lời mời khách vào nhà. Khách dự cơm thân mật với gia đình và có phong bì cho chủ, tùy hảo tâm. Sau những lời khách chào chủ, chủ cảm ơn khách trước khi ra về, một tràng pháo cáo từ của khách lại nổi lên và tràng pháo của chủ đáp lại, thay cho mọi lời chúc tụng nhau cuối cùng.


Tổng hợp
Anh Nguyễn

Ảnh
Triệu Chiến

Địa điểm chụp
Lạng Sơn